Happy day'
Chào mừng quý vị đến với Hồ Công Nhật - THCS Phù Đổng - Đại Lộc - Quảng Nam.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Giáo an NGLL 9

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hồ Công Nhật (trang riêng)
Ngày gửi: 00h:59' 18-04-2009
Dung lượng: 105.4 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Hồ Công Nhật (trang riêng)
Ngày gửi: 00h:59' 18-04-2009
Dung lượng: 105.4 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
ĐỀ TÀI:
TẠO TÌNH HUỐNG PHẢN ĐỀ
TRONG MỘT TIẾT DẠY TỪ LOẠI
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. Lí do chọn đề tài:
“Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay”, (Đặng Thai Mai), điều ta đã từng nghe nói, từng biết và cũng đã từng nói với học sinh cũng lại là vấn đề khổ tâm cho nhiều giáo viên của chúng ta. Chính cái “giàu”, sự “phong phú”, “đa dạng” kia đã làm ta gặp không ít khó khăn trong quá trình giảng dạy. Hiện tượng đồng âm, nhiều nghĩa, hiện tượng chuyển loại của từ ... làm học sinh nhầm lẫn, không xác định được và cả giáo viên chúng ta cũng không ít lần phải lúng túng.
Làm thế nào để xác định đúng từ loại? Làm thế nào để giúp học sinh phân biệt được một từ trong câu này và câu khác thuộc từ loại gì? Làm thế nào để học sinh khắc sâu kiến thức? Chính những câu hỏi này đã thôi thúc người dạy Ngữ Văn phải tìm ra những phương pháp cụ thể, thích hợp. Và bản thân tôi cũng rút ra cho mình một vài phương pháp trong việc dạy học sinh xác định từ loại.
II. Lịch sử vấn đề:
Đây là vấn đề có đề cập đến trong phần lưu ý giảng dạy tiết học từ loại của sách giáo viên, nhưng chỉ ở mức độ… nên bản thân tôi xin đề cập đến phạm vi rộng hơn, thường xuyên hơn và trở thành một nội dung trong tiết dạy từ loại.
III. Phạm vi đề tài:
Vận dụng tốt phương pháp tạo tình huống phản đề trong tiết dạy từ loại của chương trình ngữ văn 6, 7, 8.
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
I.Thực trạng ban đầu:
Khi giảng dạy một từ loại trong chương trình lớp 6,7,8, giáo viên nào cũng đều có nhiệm vụ giúp học sinh hiểu được khái niệm về từ loại, khả năng kết hợp của từ đối với từ loại khác. chức vụ ngữ pháp trong cụm từ, trong câu ... Cứ theo trình tự kiến thức trong SGK, giáo viên lần lượt hướng dẫn học sinh nắm bắt các kiến thức trong một bài học.
Về phương pháp, giáo viên theo đúng phương pháp đặc trưng bộ môn: Phương pháp qui nạp. Tức là đi từ ngữ liệu, giáo viên giúp học sinh quan sát, phân tích, tìm hiểu, hệ thống, rút ra các đơn vị kiến thức. Sau đó hướng dẫn học sinh thực hiện giải quyết các bài tập. Bài tập dạng tình huống phản đề có trong các bài Lớp 6: Số từ, tiết …, lớp 8: Trợ từ-thán từ (tiết 23), Tình thái từ (tiết 27). Nhưng các bài tập đó, người biên soạn ra với dạng bài tập ở mức độ nhận biết. Và trong bài Trợ từ, thán từ cũng chỉ ra bài tập cho kiến thức trợ từ. Giáo viên thực hiện theo yêu cầu cho học sinh giải theo hướng bài tập nhận biết. Ví dụ: Bài tập 1/trang 81 (Tiết 27/lớp 8): Xác định từ in đậm nào là tình thái từ, từ nào không phải. Học sinh có thể dựa vào kiến thức nắm được trong tiết trong tiết học để làm cơ sở cho phần nhận biết, nhưng không loại trừ khả năng một số học sinh chỉ trả lời theo cách ước chừng, phỏng đoán không có cơ sở. Rất nhiều lúc giáo viên không nhận ra điều này. Còn các bài không có dạng bài tập này ở lớp 6 là: Danh từ (tiết……), Động từ (tiết 60), Phó từ (tiết 75); lớp 7: Đại từ (tiết 15), Quan hệ từ (tiết 27) . Khi dạy giáo viên tổ chức thực hiện theo yêu cầu với các bước đi như hướng dẫn, học sinh có thể trả lời lưu loát các kiến thức khi giáo viên hỏi.
Ví dụ: Sau khi học xong tiết 15/lớp 7, giáo viên hỏi:
- Thế nào là đại từ?
- Đại từ có thể đảm nhiệm những vụ cú pháp nào trong câu?
- Có các loại đại từ nào?
Đó là những kiến thức được chốt lại sau khi tìm hiểu ngữ liệu, đó cũng là hướng câu hỏi để dẫn phần ghi nhớ. Dạy như thế ta tưởng chừng học sinh đã hiểu, đã nắm chắc được bài. Thế nhưng khi đi vào thực tế, khi yêu cầu học sinh giải bài tập, cụ thể là xác định từ loại của một từ nào đó trong câu, thì các em thường lúng túng, phân vân không thực hiện được, hoặc xác định sai. Bản thân tôi lúc đó cũng không tìm ra một phương pháp cụ thể nào để giúp các em nắm chắc kiến thức được. Chỉ cụ thể phân tích trong từng trường hợp để chỉ ra lỗi sai.
Ví dụ: Khi kiểm tra bài cũ “ Phó từ”,
TẠO TÌNH HUỐNG PHẢN ĐỀ
TRONG MỘT TIẾT DẠY TỪ LOẠI
A. PHẦN MỞ ĐẦU:
I. Lí do chọn đề tài:
“Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay”, (Đặng Thai Mai), điều ta đã từng nghe nói, từng biết và cũng đã từng nói với học sinh cũng lại là vấn đề khổ tâm cho nhiều giáo viên của chúng ta. Chính cái “giàu”, sự “phong phú”, “đa dạng” kia đã làm ta gặp không ít khó khăn trong quá trình giảng dạy. Hiện tượng đồng âm, nhiều nghĩa, hiện tượng chuyển loại của từ ... làm học sinh nhầm lẫn, không xác định được và cả giáo viên chúng ta cũng không ít lần phải lúng túng.
Làm thế nào để xác định đúng từ loại? Làm thế nào để giúp học sinh phân biệt được một từ trong câu này và câu khác thuộc từ loại gì? Làm thế nào để học sinh khắc sâu kiến thức? Chính những câu hỏi này đã thôi thúc người dạy Ngữ Văn phải tìm ra những phương pháp cụ thể, thích hợp. Và bản thân tôi cũng rút ra cho mình một vài phương pháp trong việc dạy học sinh xác định từ loại.
II. Lịch sử vấn đề:
Đây là vấn đề có đề cập đến trong phần lưu ý giảng dạy tiết học từ loại của sách giáo viên, nhưng chỉ ở mức độ… nên bản thân tôi xin đề cập đến phạm vi rộng hơn, thường xuyên hơn và trở thành một nội dung trong tiết dạy từ loại.
III. Phạm vi đề tài:
Vận dụng tốt phương pháp tạo tình huống phản đề trong tiết dạy từ loại của chương trình ngữ văn 6, 7, 8.
B. NỘI DUNG ĐỀ TÀI:
I.Thực trạng ban đầu:
Khi giảng dạy một từ loại trong chương trình lớp 6,7,8, giáo viên nào cũng đều có nhiệm vụ giúp học sinh hiểu được khái niệm về từ loại, khả năng kết hợp của từ đối với từ loại khác. chức vụ ngữ pháp trong cụm từ, trong câu ... Cứ theo trình tự kiến thức trong SGK, giáo viên lần lượt hướng dẫn học sinh nắm bắt các kiến thức trong một bài học.
Về phương pháp, giáo viên theo đúng phương pháp đặc trưng bộ môn: Phương pháp qui nạp. Tức là đi từ ngữ liệu, giáo viên giúp học sinh quan sát, phân tích, tìm hiểu, hệ thống, rút ra các đơn vị kiến thức. Sau đó hướng dẫn học sinh thực hiện giải quyết các bài tập. Bài tập dạng tình huống phản đề có trong các bài Lớp 6: Số từ, tiết …, lớp 8: Trợ từ-thán từ (tiết 23), Tình thái từ (tiết 27). Nhưng các bài tập đó, người biên soạn ra với dạng bài tập ở mức độ nhận biết. Và trong bài Trợ từ, thán từ cũng chỉ ra bài tập cho kiến thức trợ từ. Giáo viên thực hiện theo yêu cầu cho học sinh giải theo hướng bài tập nhận biết. Ví dụ: Bài tập 1/trang 81 (Tiết 27/lớp 8): Xác định từ in đậm nào là tình thái từ, từ nào không phải. Học sinh có thể dựa vào kiến thức nắm được trong tiết trong tiết học để làm cơ sở cho phần nhận biết, nhưng không loại trừ khả năng một số học sinh chỉ trả lời theo cách ước chừng, phỏng đoán không có cơ sở. Rất nhiều lúc giáo viên không nhận ra điều này. Còn các bài không có dạng bài tập này ở lớp 6 là: Danh từ (tiết……), Động từ (tiết 60), Phó từ (tiết 75); lớp 7: Đại từ (tiết 15), Quan hệ từ (tiết 27) . Khi dạy giáo viên tổ chức thực hiện theo yêu cầu với các bước đi như hướng dẫn, học sinh có thể trả lời lưu loát các kiến thức khi giáo viên hỏi.
Ví dụ: Sau khi học xong tiết 15/lớp 7, giáo viên hỏi:
- Thế nào là đại từ?
- Đại từ có thể đảm nhiệm những vụ cú pháp nào trong câu?
- Có các loại đại từ nào?
Đó là những kiến thức được chốt lại sau khi tìm hiểu ngữ liệu, đó cũng là hướng câu hỏi để dẫn phần ghi nhớ. Dạy như thế ta tưởng chừng học sinh đã hiểu, đã nắm chắc được bài. Thế nhưng khi đi vào thực tế, khi yêu cầu học sinh giải bài tập, cụ thể là xác định từ loại của một từ nào đó trong câu, thì các em thường lúng túng, phân vân không thực hiện được, hoặc xác định sai. Bản thân tôi lúc đó cũng không tìm ra một phương pháp cụ thể nào để giúp các em nắm chắc kiến thức được. Chỉ cụ thể phân tích trong từng trường hợp để chỉ ra lỗi sai.
Ví dụ: Khi kiểm tra bài cũ “ Phó từ”,
 
↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT ↓























Các ý kiến mới nhất